Ai vận hành cỗ máy thế giới?

Toàn cầu hóa đã trở thành đề tài “cửa miệng” của tất cả mọi người, từ chính trị gia đến doanh nhân. Vậy toàn cầu hóa xoay chuyển thế giới của chúng ta như thế nào?

 

Những khu nhà mới ồ ạt mọc lên ở Bagalore

 

 

Tiền lương được tính theo phần trăm của thu nhập
quốc gia ở các nước G10
Nguồn: International Settlements Economists

Toàn cầu hóa có ảnh hưởng rõ rệt tới cuộc sống của mọi quốc gia giàu cũng như nghèo. Người ta “khen” toàn cầu hóa bởi khả năng thúc đẩy sự phát triển và cũng “chê” toàn cầu hóa bởi đã “tiếp tay” cho nhiều bất cập trong xã hội hiện đại mà chính nó mang lại.

Các nhà kinh tế học tin rằng toàn cầu hóa có thể là lời giải đáp cho những xu hướng chính của nền kinh tế thế giới chẳng hạn như:

- Lương công nhân thấp hơn, song song với mức lợi nhuận cao hơn tại các nước phương Tây

- Làn sóng di cư ồ ạt tại các nước, từ các tỉnh ra thành phố nhằm gây dựng cuộc sống

- Lạm phát và lãi suất trung bình ở mức thấp cho dù tăng trưởng vẫn tăng ở mức độ cao

Và toàn cầu hóa là yếu tố chủ chốt làm “thay da đổi thịt” cho nhiều nước, từ Mỹ và châu Âu đến những nước trước đây vốn bị coi là nước nghèo tại châu Á, bao gồm Ấn Độ và Trung Quốc.

 

Trong 50 năm trở lại đây, dù chưa dám bàn đến khía cạnh văn hóa xã hội, toàn cầu hóa đã là bàn đạp để nhân loại nói chung vươn tới những đỉnh cao mới của sự phồn vinh.

Ngược lại, sự tăng tốc đến chóng mặt của toàn cầu hóa cũng có thể thay đổi diện mạo của một vùng, một quốc gia từ hưng thịnh đến suy thoái, và ngược lại, chỉ trong quỹ thời gian của một thế hệ.

Ví dụ điển hình

Xin được đưa ra dẫn chứng đầu tiên về Bangalore, thành phố được coi là Thung lũng Silicon của Ấn Độ, bởi đây là nơi chứng kiến những ảnh hưởng của toàn cầu hóa rõ rệt hơn bất cứ quốc gia nào, từ khi sự bùng nổ của CNTT hay đổi diện mạo và kì vận của nền kinh tế Ấn Độ.

Đối với Santosh, một công dân Ấn Độ vốn làm nghề hướng dẫn viên du lịch tại Bangalore, cuộc sống dường như đã khởi sắc với sự lên ngôi của CNTT. Anh đứng lên thành lập một công ty du lịch riêng của mình mang tên getoffurass.com, với mục đích chính là cung cấp những chuyến du lịch trọn gói vào dịp cuối tuần cho lớp công nhân CNTT đang ngày càng bị mài mòn bởi áp lực công việc.

Ví dụ thứ hai là về Dean Braid, một kĩ sư ô tô tay nghề cao ở Michigan, một trường hợp điển hình của mặt trái của sự phát triển. Cùng với 28. 000 công nhân khác, anh đã bị sa thải khỏi khu công nghiệp Buich City khi hãng General Motor quyết định giải thể khu này vào năm 1999. Từ đó đến nay anh vẫn thất nghiệp.

Thương mại “lên ngôi”, dịch vụ “thất sủng”

Sản phẩm mới của Apple là iPhone sẽ được
chế tạo bởi các công ty châu Á

Thương mại đã và đang là động cơ của cỗ máy toàn cầu hóa. Lưu lượng thương mại của thế giới trong lĩnh vực sản xuất hàng hóa đã tăng gấp hơn 100 lần (từ 95 tỉ đô lên tới 12 nghìn tỉ đô Mỹ), trong vòng 50 năm kể từ năm 1955, cao hơn cả mức tăng trưởng chung của nền kinh tế thế giới.

Từ năm 1960, sự gia tăng của mậu dịch đã là xúc tác cho nhiều thỏa thuận giảm và cắt giảm hàng rào quan thuế trong xuất nhập khẩu.

Ấn Độ độc chiếm dịch vụ CNTT toàn cầu

Những năm sau Thế chiến cũng chứng kiến sự xuất hiện của các công ty liên quốc gia vận hàng và sản xuất hàng hóa ở khắp các ngõ ngách của địa cầu.

Trong bài toán kinh doanh, việc thiết lập các nhà máy tại các nước sở tại vừa tạo điều kiện cho các công ty tiếp cận và có chiến lược marketing phù hợp với thị trường, cũng vừa là cơ hội thuận lợi cho việc tận dụng nguồn nhân lực với chi phí thấp hơn.

 

Cho đến nay, “đường đi nước bước” của quá trình toàn cầu hóa càng trở nên phức tạp.

1/3 lượng mậu dịch được tiến hành trực tiếp giữa các công ty, chẳng hạn hãng Toyota vận chuyển phụ tùng ô tô từ Nhật sang Mỹ để lắp ráp vòng cuối. Một vài “đại gia” xuyên quốc gia khác như Apple cũng trở thành “công ty ảo” do việc thuê làm bên ngoài, phần lớn là các công ty ở châu Á.

Điều này cũng ngầm chỉ ra rằng lượng công việc vốn giành cho công nhân trong nước giờ chuyển hướng sang các nước khác, đe dọa cuộc sống của những người như anh Dean Braid kể trên.

Không chỉ có ngành công nghiệp chế biến phương Tây chịu tác động tiêu cực của toàn cầu hóa, ngành dịch vụ tại các nước này cũng bị ảnh hưởng. Từ dịch vụ thẩm mỹ đến ngành giáo dục, kế toán hay phát triển phần mềm, lượng việc làm trong nước giảm đi đáng kể từ khi các công ty tiết kiệm chi phí bằng cách thay đổi các chức năng mà nhân viên nội bộ từng đảm nhiệm.

Hai người "khổng lồ" Ấn Độ và Trung Quốc

Năm ngoái, 1,4 tỉ người xin vào làm cho
hãng Infosys ở Bangalore

Quyết định mở cửa nền kinh tế của hai người khổng lồ Ấn Độ và Trung Quốc đã làm gia tăng mạnh mẽ lực lượng lao động vốn đã dồi dào của châu Á, và ngay lập tức khiến cho nguồn cung cấp lao động của thế giới tăng gấp đôi.

Nếu coi Trung Quốc là vua trong ngành sản xuất thì Ấn Độ đã trở thành điểm đến của các thương nhân quốc tế. Ấn Độ thu hút đầu tư bởi khả năng đáp ứng mọi dịch vụ và chức năng, từ thanh toán tiền lương đến hỗ trợ công nghệ.

Ngày nay, Ấn Độ đã trở thành quán quân trong lĩnh vực xuất khẩu các dịch vụ CNTT toàn cầu, và vẫn tiếp tục tăng trưởng, với lưu lượng kinh doanh ngoài quốc gia tăng gấp đôi mỗi năm.

Tại Ấn Độ, sự có mặt của các công ty quốc tế trong lĩnh vực CNTT ngày càng hùng hậu, và lượng vốn đầu tư rót vào Ấn Độ vẫn đang tăng lên từng ngày. Điều kiện "lột xác" này đã đẩy tỉ lệ tăng trưởng của nước này lên tới hơn 9%/năm, xấp xỉ mức tăng trưởng của Trung Quốc.

Khỏi phải nói, mặt bằng cuộc sống của người dân Ấn Độ, đặc biệt là giới trí thức trẻ trong ngành CNTT đã tăng lên đáng kể, thể hiện qua sức tiêu thụ mạnh mẽ của những xa xỉ phẩm như ô tô và nhà cửa.

Cơ hội mới – Khủng hoảng mới

Một cuộc khảo sát gần đây tiến hành bởi Deloitte (tháng 11 năm 2006) hé lộ mối lo ngại đang dâng cao của xu hướng thuê làm bên ngoài đối với các công việc trí óc tại Anh.

Số người lạc quan về việc này ngày càng giảm, từ 29% hồi tháng 1 cùng năm tới chỉ còn 13%. Trong khi đó, 82% cho rằng lượng công việc thuê làm ở ngoài như vậy là đủ rồi, và tới 32% phẫn nộ muốn ép buộc các công ty trao trả lại công việc cho người Anh.

 

Toàn cầu hóa dường như đã vượt ra khỏi tầm kiểm soát của các quốc gia. Trong khi đó, điều đáng lo ngại hơn là thế giới thiếu đi một tiếng nói chung, một cơ chế công bằng để kiểm soát và duy trì trật tự kinh tế thế giới.

Nói như thế không có nghĩa là phủ nhận những nỗ lực của các tổ chức quốc tế, nhưng xét về kết quả, các quốc gia vẫn vấp phải những khó khăn ngày càng leo thang trong việc định đoạt vận mệnh kinh tế của chính mình.

Chẳng hạn, Tổ chức Thương mại Quốc tế WTO đang "ngồi trên đống lửa" do thất bại trong việc nghiên cứu kĩ lưỡng những tiêu chuẩn của lực lượng lao động cũng như những tác động tiêu cực của thương mại đối với môi trường thế giới. Đó là còn chưa kể đến việc những cố gắng của WTO trong việc tiếp tục bãi bỏ hàng rào mậu dịch toàn cầu đang dần mai một.

Trong khi đó, Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF và Ngân hàng Thế giới đã vấp phải nhiều phê bình vì đã "kìm kẹp" những nước có thị trường đang phát triển như Ấn Độ và Trung Quốc. Xin được lí giải thêm rằng hai tổ chức trực thuộc Liên Hợp Quốc kể trên được thành lập năm 1944 với mục đích "cao cả" là kiểm soát hệ thống tiền tệ quốc tế cũng như đảm bảo nguồn viện trợ cho các nước nghèo.

Ai vận hành cỗ máy thế giới?

 

Vấn đề nổi cộm của toàn cầu hóa là sự thiếu hụt hệ thống quy định quốc tế trên mọi lĩnh vực, nổi cộm và nhất thời như kinh tế và thương mại, tiềm tàng và lâu dài như giá trị xã hội và văn hóa.

Những nỗ lực của OECD nhằm tạo chính sách điều hành lượng đầu tư toàn cầu của các công ty liên quốc gia đã "hoàn toàn phá sản" vào những năm 1980.

Trong khi đó, chính sách giành cho hệ thống ngân hàng quốc tế, thị trường và kế toán thì lại được thương lượng riêng bởi các "ông trùm" phi chính phủ.

Đối với lớp công nhân, tình hình cũng chẳng mấy khả quan hơn. Tổ chức Lao động Quốc tế ILO hứa hẹn thành lập các công đoàn để bảo vệ lợi ích của giới công nhân, tiếc thay, điều này vẫn mới chỉ là "hứa suông".

Là một "người chơi" của toàn cầu hóa, Việt Nam của chúng ta không thể không chú ý đến chủ đề này. Nếu toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới là điều tất yếu, liệu toàn cầu hóa có đến song song với hệ thống quy tắc, luật định; và quan trọng hơn, các quốc gia và tổ chức có liên quan phải phối hợp thế nào để quyết định "số phận" của nền kinh tế thế giới và đảm bảo sự công bằng.

    • Catherine Trần (Bài và ảnh theo BBC)

 

(Theo TuanVietNam)

You can leave a response, or trackback from your own site.

Leave a Reply

Powered by WordPress | Designed by: BlueHost Coupon | Compare CD Rates, Online Brokers and Press Release