Trên thế giới, vấn đề bảo hộ bí mật kinh doanh đã được chú ý đến từ năm 1883, từ khi "Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp" có hiệu lực.
Tại Việt Nam, Nghị định 54/2000/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 3/10/2000 cũng đã quy định về bảo hộ bí mật kinh doanh.
Tuy nhiên, từ đó đến nay chưa có tranh chấp liên quan đến đối tượng này. Báo giới đã phỏng vấn ông Phạm Phi Anh – Phó cục trưởng Cục Sở hữu trí tuệ xung quanh vấn đề trên.
Thưa ông, vì sao phải đặt vấn đề bảo hộ bí mật kinh doanh?
Bí mật kinh doanh là thông tin bí mật liên quan đến kinh doanh mà doanh nghiệp thu được từ hoạt động đầu tư tài chính, trí tuệ và phải hội đủ các điều kiện: không phải là những hiểu biết thông thường, có khả năng áp dụng trong kinh doanh và khi được sử dụng sẽ tạo ra lợi thế trong kinh doanh cho người nắm giữ hoặc sử dụng, được chủ sở hữu bảo mật bằng các biện pháp cần thiết.
Ngày nay, vấn đề bảo hộ bí mật kinh doanh đang được các doanh nghiệp hết sức quan tâm do nhiều yếu tố:
Thứ nhất, mức độ cạnh tranh trên thị trường ngày càng khốc liệt nên các đối thủ cạnh tranh không muốn chia sẻ thông tin cho nhau.
Thứ hai, người lao động có quyền lựa chọn và thay đổi nơi làm việc, họ mang theo thông tin đến nơi làm việc mới và đây thường là các đối thủ cạnh tranh của công ty cũ.
Thứ ba, bản thân các thông tin bí mật không phải là giải pháp kỹ thuật nên không thể bảo hộ được dưới danh nghĩa sáng chế (bí mật thương mại).
Nói như vậy thì bí mật kinh doanh cũng có quan hệ với các đối tượng sở hữu công nghiệp. Vậy nên hiểu mối quan hệ này như thế nào, thưa ông?
Những đối tượng sở hữu công nghiệp (sáng chế, kiểu dáng) khi chưa đăng ký bảo hộ phải có tính mới, lúc này chúng tồn tại với hình thức là bí mật kinh doanh. Nhưng tùy thuộc tình hình phát triển công nghệ trên thị trường, bí mật kinh doanh được đăng ký sẽ trở thành một đối tượng sở hữu công nghiệp cụ thể.
Bí mật kinh doanh được thể hiện trên bao bì sản phẩm và trong chính sản phẩm, khi đưa sản phẩm ra thị trường thì bằng công nghệ ngược, đối thủ cạnh tranh có thể tìm ra những thông tin đó, họ có thể sản xuất loại hàng hoá tương tự. Hành vi này được coi là không vi phạm quyền đối với bí mật kinh doanh.
Vậy theo ông, những hành vi nào được coi là vi phạm quyền đối với bí mật kinh doanh?
Với bí mật kinh doanh, chủ sở hữu có quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt theo quy định của pháp luật. Những hành vi xâm phạm quyền đối với bí mật kinh doanh bao gồm:
- Tiếp cận, thu thập thông tin thuộc bí mật kinh doanh bằng cách chống lại các biện pháp bảo mật của người sở hữu hợp pháp.
- Bộc lộ, sử dụng thông tin thuộc bí mật kinh doanh mà không được phép của chủ sở hữu
- Vi phạm hợp đồng bảo mật hoặc lợi dụng lòng tin của người có nghĩa vụ bảo mật nhằm tiếp cận, thu thập và làm lộ thông tin thuộc bí mật kinh doanh.
- Tiếp cận, thu thập các thông tin thuộc bí mật kinh doanh khi bí mật kinh doanh đang được trình theo thủ tục xin cấp giấy phép kinh doanh hoặc chống lại các biện pháp bảo mật của các cơ quan có thẩm quyền.
- Bộc lộ hoặc sử dụng bí mật kinh doanh khi đã biết bí mật đó thu được một cách bất hợp pháp.
- Không thực hiện nghĩa vụ bảo mật dữ liệu thử nghiệm.
Ông có thể cho biết con đường ngắn nhất để giải quyết các vi phạm này là gì?
Trong số các đối tượng của sở hữu trí tuệ thì bí mật kinh doanh mang tính chất đặc thù hơn, doanh nghiệp muốn bảo hộ bí mật kinh doanh không phải nộp đơn mà tự mình tiến hành quy trình quản lý. Nhà nước không xác định quyền mà chỉ quy định các điều kiện bảo hộ và đối tượng bảo hộ. Nếu xảy ra vi phạm quyền đối với bí mật kinh doanh thì có 3 cách giải quyết là sử dụng biện pháp hành chính, dân sự và hình sự.
Theo tiền lệ trên thế giới, khi có các vi phạm quyền đối với bí mật kinh doanh thì biện pháp hành chính và biện pháp hình sự ít được áp dụng. Người ta chủ yếu áp dụng biện pháp dân sự. Việc lựa chọn biện pháp xử lý này là do bí mật kinh doanh khi bị bộc lộ thì ít ảnh hưởng tới người tiêu dùng và xã hội mà chỉ ảnh hưởng tới chủ sở hữu nó.
Quy trình quản lý bí mật kinh doanh trong doanh nghiệp:
- Trước tiên, các doanh nghiệp cần xác định, đánh giá đúng đối tượng để quyết định áp dụng hình thức bảo hộ thích hợp. đối với các đối tượng có khả năng bị tìm ra được khi áp dụng công nghệ ngược thì doanh nghiệp nên tiến hành bảo hộ dưới danh nghĩa sáng chế, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, kiểu dáng công nghiệp. Với các đối tượng còn lại, doanh nghiệp nên bảo hộ dưới danh nghĩa bí mật kinh doanh bằng các biện pháp bảo mật và quản lý chặt chẽ.
- Sau đó, doanh nghiệp cần tiến hành đồng thời, nghiêm túc quy trình quản lý. Tuỳ thuộc vào bản chất và giá trị của bí mật kinh doanh, tiến hành phân loại mức độ bảo mật và phạm vi đối tượng được tiếp cận và sử dụng chúng.
- Thiết lập các biện pháp bảo mật cần thiết như biện pháp công nghệ, biện pháp cơ học, hợp đồng – thoả thuận bảo mật, nội quy; Quy định trách nhiệm, nghĩa vụ của cán bộ, nhân viên đối với bí mật kinh doanh của doanh nghiệp thông qua nội quy, thoả ước lao động tập thể; Lập danh mục bí mật kinh doanh theo mức độ mật hoặc theo lĩnh vực áp dụng để quản lý tập trung; Định kỳ đánh giá, kiểm tra tình trạng bảo mật của bí mật kinh doanh…


Chuyên mục
Tags: 







