Cũng như trong lĩnh vực kinh doanh, các nhà lãnh đạo trong lĩnh vực chính trị cũng có những đặc điểm mang tính “thế hệ”. Thật thú vị và hữu ích cho những nhà quản lý khi đứng phân tích chính trường nóng bỏng ở Mỹ từ góc nhìn này
Nếu như một trong những thế hệ mới gợi cho bạn nhớ tới một thế hệ cũ hơn, thì có thể bạn đã đúng.
William Strauss[1] và Neil Howe[2] trong tác phẩm Generations: The History of America’s Future, 1584 to 2069 (TD: Các thế hệ: Lịch sử của tương lai nước Mỹ từ 1584 tới 2069) xuất bản năm 1991, đã lần theo dấu vết lịch sử của nước Mỹ thông qua các thế hệ.
![]() |
|
Phải chăng lần theo dấu vết thế hệ các Tổng thống Mỹ |
Họ cho rằng các thế hệ này đều tuân theo một chu trình lặp lại, bao gồm bốn thành phần:
- Thế hệ “công dân”: Một thế hệ vượt trội, hướng ngoại, được đặc trưng bởi những người anh hùng, có thành tựu lớn, có đóng góp nhiều trong việc xây dựng thể chế. Họ là những người trung niên đầy sức mạnh và luôn bận rộn, đôi khi bao gồm cả người cao tuổi.
- Thế hệ “thích nghi”: Một nhóm thụt lùi, được đặc trưng bởi những những người phản đối sự liều lĩnh theo chủ nghĩa tôn giáo. Đó là những người mất nửa cuộc đời làm quan toà, thẩm phán rồi trở thành những người già nua nhạy cảm.
- Thế hệ “thần tượng”: Một nhóm thống trị bởi những cá nhân với đặc trưng là những người trẻ tuổi có xu hướng hướng nội, những người trẻ tuổi yêu thích bản thân, những người trung niên có đạo đức và những người cao tuổi có tầm nhìn xa.
- Thế hệ “phản ứng”: Một thế hệ thụt lùi, đặc trưng bởi những thanh niên được bảo vệ, hay bị chỉ trích, những người trẻ tuổi cực kỳ liều lĩnh, những nhà lãnh đạo trung niên thực dụng, và những người cao tuổi ẩn dật…
Trong khung cơ cấu của Strauss và Howe, thế hệ “công dân” và thế hệ “thần tượng” là hai thế hệ sản sinh ra nhiều tổng thống cho nước Mỹ nhất (và những nhà lãnh đạo quốc tế khác).
Thế hệ “công dân” cuối cùng của nước Mỹ thường được gọi là “G.I” hay như Tom Brokaw[3] gọi là thế hệ “Vĩ đại nhất”. Thế hệ này đã sản sinh ra một chuỗi các đời tổng thống, từ năm 1961 tới năm 1993 như: Kenedy[4], Johnson[5], Nixon[6], Ford[7], Carter[8], Reagan[9] và Bush cha[10].
![]() |
|
Có không khái niệm về “thế hệ Tổng thống” của Mỹ? |
Thế hệ tiếp theo mà tôi gọi là “Những người theo chủ nghĩa truyền thống” (những người sinh vào khoảng từ năm 1928 tới 1945), đại diện cho mắt xích “thích nghi” trong chu trình của Strauss và Howe.
Gần đây, thế hệ này chỉ sản sinh ra các Phó tổng thống, mà không có Tổng thống nào. Nếu John McCain[11] (sinh năm 1936) đắc cử, ông sẽ trở thành tổng thống đầu tiên thuộc nhóm “thích nghi” này – nhưng đó chỉ là giả thuyết.
Thay vào đó, chức danh Tổng thống đã bỏ qua thế hệ “Những người theo chủ nghĩa truyền thống” và tiến thẳng tới thế hệ tiếp theo trong lý thuyết của Strauss và Howe, thế hệ “thần tượng”.
Đó là những người thuộc thế hệ Baby Boomers (Thế hệ công dân sinh từ khoảng năm 1946 đến 1964). Bill Clinton[12] và Bush con[13] đều thuộc thế hệ này.Tất cả những ứng cử viên hiện đang dẫn đầu cho vị trí Tổng thống nước Mỹ (trừ McCain) đều sinh ra thuộc thế hệ Boomers.
Thậm chí, Barack Obama[14], người có một vài đặc điểm giống thế hệ X (thế hệ sinh từ năm 1965 tới 1978) cũng nằm trong định nghĩa mà tôi đã dùng cho thế hệ Boomers. Obama sinh năm 1961, nằm trong số những người trẻ nhất thuộc thế hệ Boomers.
Vậy, có thể kết luận gì từ những ứng cử viên của hiện tại? Tôi cho rằng những ứng cử viên thế hệ Boomers, những người dường như tạo ra tiếng vang mạnh mẽ nhất hiện nay có thể sẽ đánh bại những sợi dây “lý tưởng” vốn hết sức bền vững.
Sức mạnh của Obama và Huckabee dường như bắt nguồn từ trục bản lề là những giá trị vững chắc của họ.Bài phát biểu thành công của bà Clinton[15] tại New Hampshires[16] đã đánh dấu một sự chuyển hướng trong đường lối, khi bà mô tả rằng hiện nay bà đã “tìm thấy tiếng nói” của mình như thế nào.
![]() |
|
Tổng thống tương lai của nước Mỹ sẽ là người thuộc thế hệ nào? |
Có thể đây không phải là thời điểm để nhấn mạnh vào chủ đề dân sự – xây dựng những chương trình và thể chế mới – nhưng đã chạm tới những trái tim “lý tưởng”.
Liệu sẽ có một vị Tổng thống mới sản sinh từ chu kỳ tiếp theo (thuộc thế hệ “phản ứng”), của Strauss và Howe – một người thuộc thế hệ X hay không? Cả Truman[17] và Eisenhower[18] đều sinh ra từ thế hệ “phản ứng” của chu kỳ trước.Tuy nhiên, vào năm 1991, Strauss và Howe đã dự đoán rằng khái niệm về thế hệ Tổng thống, nếu xảy ra, sẽ không tái diễn cho tới năm 2020. Đó là điều phản ánh khả năng nối tiếp của thế hệ Boomers trong việc cầm lái ở những thập kỷ tiếp theo.
Sau tất cả, rất có thể, chức danh Tổng thống sẽ thuộc về thế hệ “công dân” – những người thuộc thế hệ Y hiện nay (thế hệ Y sinh ra từ năm 1979 tới năm 1994)
- Bài viết của Tammy Erickson trong chuyên mục “Across the Ages” trên trang HBO -
[1] William Strauss là một nhà diễn thuyết, một cây viết, nhà lịch sử, nhà viết kịch, giám đốc nhà hát, nghệ sĩ và là người rất có uy tín trong việc nghiên cứu sự thay đổi thế hệ lịch sử nước Mỹ. Strauss là nhà sáng lập và là cố vấn công ty LifeCourse Associates. Strauss tốt nghiệp trường Cao đẳng Harvard (1969), trường Luật Harvard(1973), trường Chính trị Kennedy (1973). Một số sách của ông: Millennials Rising (TD: Một thiên niên kỷ phát triển, viết cùng Howe 2000); Ông từng viết hai cuốn sách về cuộc chiến tranh Việt Nam với Lawrence Baskir: Chance and Circumstance: The Draft, The War, and the Vietnam Generation (TD: Sự tình cờ và hoàn cảnh: Phác thảo, Chiến tranh và những Thế hệ việt nam, 1978), and Reconciliation After Vietnam (TD: Sự hòa hoãn giao sau cuộc chiến Việt Nam, 1978).
[2] Neil Howe, một tác giả và là nhà diễn thuyết nổi tiếng thế giới, nổi tiếng có uy tín trong lĩnh vực nghiên cứu các thế hệ tại Mỹ. Là nhà lịch sử, kinh tế học và nhà nhân khẩu học, tốt nghiệp xuất sắc khoa kinh tế và lịch sử trường Đại học Yale. Neil Howe diễn thuyết về những bất đồng rộng lớn cho các thính giả đến từ công ty Ford, AARP, Merrill Lynch, Marine Corps… Cuốn sách gần đây nhất của Neil Howe, viết cùng với Bill Straus: Millennials and the Pop Culture (TD: Một nghìn năm và văn hoá dân gian hiện đại, 2006).
[3] Thomas John Brokaw sinh 6/2/1940 tại Webster, South Dakota, là một ký giả truyền hình và là tác giả, trước đây làm việc cho NBC, là người giữ vai trò chủ chốt và trưởng ban biên tập của chương trình NBC Nightly News with Tom Brokaw. Brokaw công tác tại trường Đại học Howard thuộc bộ thông tin truyền thông và là thành viên Ban quản trị trường Đại học Nam Dakota, bảo tàng Norton Simon, một bảo tàng lịch sử tự nhiên của nước Mỹ và Ủy ban cứu nạn quốc tế. Ngoài ra ông còn là một cây viết nổi tiếng về nhiều đề tài khác nhau.
[4] John Fitzgerald Kennedy (29/5/1917 – 22/11/1963), thường được gọi là Jack Kennedy hay JFK, là tổng thống thứ 35 của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ (1961–1963). Kennedy bị ám sát vào ngày 22 tháng 11 năm 1963, đây là một bước ngoặt trong dòng lịch sử Hoa Kỳ vào thập niên 1960.
[5] Lyndon Baines Johnson (27/8/1908 – 22/1/1973), thường được gọi tắt là LBJ, là Tổng thống Hoa Kỳ thứ 36, giữ chức từ năm 1963 đến 1969. Sau khi phục vụ lâu đời tại Quốc hội Hoa Kỳ, Johnson được bầu làm Phó tổng thống thứ 37; năm 1963 ông nhận chức tổng thống sau khi Tổng thống John F. Kennedy bị ám sát. Ông là một nhà lãnh đạo quan trọng của Đảng Dân chủ.
[6] Richard Milhous Nixon (9/1/1913 – 22/4/1994) là Tổng thống thứ 37 của Hoa Kỳ nhiệm kỳ phục vụ từ 1969 đến 1974. Ông là Tổng thống duy nhất đã từ chức khỏi nhiệm sở. Ông là thành viên của Đảng Cộng hòa.
[7] Gerald Rudolph Ford, Jr. (sinh ngày 14/7/913 – 26/12/2006) là thành viên Đảng Cộng hòa. Ông là Phó tổng thống thứ 40 nhiệm kỳ 1973–1974 và là Tổng thống thứ 38 của Hoa Kỳ nhiệm kỳ 1974–1977. Khi trở thành tổng thống, ông là người đầu tiên (và cho đến nay, là người duy nhất) trong lịch sử trở thành Tổng thống Hoa Kỳ mà không phải thông qua một cuộc bầu cử vào chức Phó Tổng thống hay Tổng thống.
[8] James Earl “Jimmy” Carter, Jr (sinh ngày 1/10/1924) là chính khách và tổng thống thứ 39 của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ (1977–1981), ông là người đoạt Giải Nobel Hoà bình năm 2002. Năm 1976, Carter giành được sự đề cử của Đảng Dân chủ, được xem là “ngựa ô” trong cuộc đua, rồi vượt qua tổng thống đương nhiệm Gerald Ford với chiến thắng sát sao trong cuộc bầu cử tổng thống năm 1976.
[9] Ronald Wilson Reagan (6 tháng 2 năm 1911 – 5 tháng 6 năm 2004) là thống đốc thứ 33 của tiểu bang California nhiệm kỳ 1967–1975 và là Tổng thống thứ 40 của Hoa Kỳ nhiệm kỳ 1981–1989. Ông là thành viên của Đảng Cộng hòa.
[10] George Herbert Walker Bush, Bush cha (sinh ngày 12 tháng 6, 1924) là Tổng thống thứ 41 của Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ nhiệm kỳ 1989–1993. Ông là thành viên của Đảng Cộng hòa.
[11] John Sidney McCain III (sinh ngày 29/8/1936 tại kênh đào Panama) là một chính trị gia người Mỹ, một phi công, một cựu binh chiến tranh Việt Nam và hiện là thượng nghị sĩ đảng Cộng Hòa Hoa Kỳ thuộc bang Arizona. Ông từng là ứng cử viên trong cuộc bầu cử tổng thống Mỹ năm 2000, nhưng đã chịu thất bại trước George W. Bush cho sự đề cử của đảng Cộng Hòa. Hiện tại ông là ứng cử viên cho cuộc bầu cử tổng thống Mỹ năm 2008.
[12] William Jefferson Clinton, sinh ngày 19 tháng 8 năm 1946 với tên William Jefferson Blyth III, là thành viên của Đảng Dân chủ, ông là tổng thống thứ 42 của Hoa Kỳ từ năm 1993 đến năm 2001. Trước khi vào Toà Bạch Ốc, Clinton đã phục vụ hai nhiệm kỳ thống đốc tiểu bang Arkansas.
[13] George Walker Bush, sinh ngày 6/7/1946, là chính khách và tổng thống thứ 43 của Hoa Kỳ. Ông thuộc Đảng Cộng hoà và là thành viên của một gia đình danh giá và quyền thế nhất nước Mỹ, Gia tộc Bush. Những chính khách của gia đình này gồm có: ông nội (cố Thượng nghị sĩ Prescott Bush), cha (cựu tổng thống George H. W. Bush), và em trai của ông (Jeb Bush, đương chức thống đốc tiểu bang Florida).
[14] Barack Hussein Obama sinh ngày 4 tháng 8 năm 1961, là một trong hai thượng nghị sĩ Dân chủ Hoa Kỳ của tiểu bang Illinois. Theo Văn phòng Lịch sử Thượng viện Hoa Kỳ, ông là thượng nghị sĩ người Mỹ gốc Phi thứ năm trong lịch sử Mỹ và là người Mỹ gốc Phi duy nhất đang phục vụ trong Thượng viện. Ông được bầu làm thượng nghị sĩ trong Thượng viện Illinois năm 1996. Năm 2004 ông ra ứng cử một ghế trống trong Thượng viện Hoa Kỳ. Năm 2004, Obama đọc bài diễn văn chính tại Hội nghị Dân chủ Quốc gia 2004 và trở thành một chính khách nổi tiếng khắp nước. Ông được bầu vào Thượng viện Hoa Kỳ vào tháng 11 năm 2004 với 70% số phiếu. Ngày 10 tháng 2 năm 2007, Obama ra ứng cử chính thức cho cuộc bầu cử Tổng thống năm 2008 tại Springfield, Illinois. Nếu được bầu, ông sẽ trở thành tổng thống người Mỹ gốc Phi đầu tiên cũng như là tổng thống người hỗn hợp chủng tộc đầu tiên của nước Mỹ. Các cuộc thăm dò ý kiến gần đây cho xếp ông là ứng cử viên thứ hai đối với cử tri Dân chủ, sau Thượng nghị sĩ Hillary Clinton
[15] Hillary Rodham Clinton sinh ngày 26/10/1947, là Thượng nghị sĩ Quốc hội Hoa Kỳ đại diện cho tiểu bang New York từ ngày 3 tháng 1 năm 2001. Hillary kết hôn với Tổng thống Bill Clinton, là Đệ nhất Phu nhân Hoa Kỳ từ năm 1993 đến năm 2001. Bà là thành viên Đảng Dân chủ. Tháng 9 năm 2006, tên của Hillary Clinton được đưa vào danh sách 100 phụ nữ nhiều quyền lực nhất thế giới của tạp chí Forbes, ở vị trí thứ 18. Hiện bà đang là ứng cử viên nặng ký cho chiếc ghế tổng thống nhiệm kỳ tới.
[16] New Hampshire là một vùng đất thuộc New England thuộc miền bắc nước Mỹ. Đây là vùng đất lớn thứ 44 của nước Mỹ, xếp thứ 41 (tính về dân số).
[17] Harry S. Truman (8/5/1884 – 26/12/1972) là thành viên của Đảng Dân chủ, ông là Phó tổng thống thứ 34 (1945) và là Tổng thống thứ 33 của Hoa Kỳ (1945–1953), kế nhiệm Nhà Trắng sau cái chết của Franklin D. Roosevelt.
[18] Dwight David “Ike” Eisenhower (14 tháng 10, 1890 – 28 tháng 3, 1969) là ứng cử viên của Đảng Cộng hòa ông đã được bầu để trở thành Tổng thống thứ 34 của Hoa Kỳ nhiệm kỳ 1953–1961.
Theo TuanVietNam





Chuyên mục 







